Điều hướng dòng tiền hỗ trợ phục hồi kinh tế

Điều hướng dòng tiền hỗ trợ phục hồi kinh tế

ĐẶNG HÀ MY

Thứ Ba, 06-07-2021, 11:43

+ | Print

Các ngân hàng tiết giảm chi phí tạo vốn vay rẻ cho người dân, doanh nghiệp. Ảnh: NGUYỆT ANH

Theo NHNN, tính đến ngày 15/6/2021, tín dụng toàn nền kinh tế tăng 5,1% so cuối năm 2020 (cùng kỳ năm 2020 tăng 2,26%). Thông tin này đã khiến nhiều người cho rằng, tín dụng tăng sẽ gây áp lực lên mặt bằng lãi suất, nhất là trong bối cảnh lạm phát có dấu hiệu tăng.

Về vấn đề này, chuyên gia kinh tế Lê Xuân Nghĩa nêu quan điểm, tốc độ tăng trưởng tín dụng có cao nhưng kinh tế phục hồi chưa mạnh mẽ, đặc biệt là những ngành liên quan dịch vụ có mức tăng thấp. Do đó, vòng quay tiền tệ chậm, tổng khối lượng tiền tệ không tăng nhiều. Nói cách khác, tốc độ tăng của tiền tệ cộng với tốc độ tăng của vòng quay sẽ bằng tốc độ tăng GDP cộng với tốc độ tăng của giá cả (tốc độ tăng của lạm phát). Lãi suất tăng hay không phụ thuộc tốc độ lạm phát, tốc độ tăng của tiền, yếu tố này hiện tương đương năm ngoái, nhưng vòng quay của tiền còn khá chậm nên GDP tăng cao hơn cũng không ảnh hưởng tốc độ của lạm phát. Thực tế, lạm phát của Việt Nam năm nay vẫn chưa đáng lo ngại. Với tốc độ nhập khẩu và tiêm vaccine khá chậm như hiện nay, nhiều ngành kinh tế như: du lịch, hàng không, vận tải… sẽ vẫn khó khăn, phải đến nửa cuối năm sau mới có khả năng phục hồi. Theo đó, lạm phát cả năm vẫn chỉ dưới 4%. Chính vì lạm phát thấp, DN nhiều ngành chưa phục hồi, lãi suất cho vay sẽ không tăng, thậm chí còn có cơ hội giảm thêm.

Ông Lê Xuân Nghĩa phân tích, lạm phát còn có nguyên nhân từ bên ngoài. Lạm phát trên thế giới tăng thì khi nhập khẩu hàng hóa sẽ “nhập khẩu” luôn lạm phát, nhưng lạm phát bên ngoài hiện được các NHT.Ư (ngoại trừ Mỹ) đánh giá mới đạt kỳ vọng, chứ chưa tăng cao. Cụ thể, lạm phát tại châu Âu mới đạt mục tiêu 2%, Nhật Bản chưa đạt mục tiêu 2%... riêng Mỹ đặt mục tiêu lạm phát 2,5% thì hiện tại cao gần gấp đôi, nhưng được cho rằng mức tăng này là nhất thời, vì mức độ hồi phục kinh tế chưa cao và vòng quay của tiền đang chậm lại. Tăng trưởng kinh tế Trung Quốc, Mỹ khá nhanh, tạo ra áp lực về giá nguyên liệu, vật liệu cơ bản như: sắt, thép, bông, sợi… và có tác động nhất định đến giá cả trong nước, nhưng diễn ra từ nhiều tháng nay nên áp lực không lớn.

Theo phân tích của các chuyên gia, để ứng phó dịch Covid-19, ngay từ giữa năm 2020, các NHT.Ư trên thế giới đã tung ra hàng loạt các CSTT “nới lỏng” chưa từng có tiền lệ. Chỉ trong thời gian ngắn, lượng tiền cơ sở đã tăng gấp đôi, cho thấy mức độ của các chính sách nới lỏng. Kéo theo đó là sự tăng giá của các kênh tài sản với điển hình là thị trường cổ phiếu và thị trường các tài sản có mức sinh lời cố định như trái phiếu. Điều này dẫn đến hiện tượng lạm phát tăng ở nhiều quốc gia.

Thực tế, CSTT “nới lỏng” vẫn là thông điệp xuyên suốt của các NHT.Ư giai đoạn hiện nay nhằm tiếp tục hỗ trợ nền kinh tế phục hồi. Tuy nhiên, khi các nước đồng loạt thay đổi CSTT trước áp lực của lạm phát thì Việt Nam sẽ chịu tác động gì và sẽ hành động ra sao?

Theo Vụ trưởng CSTT Phạm Thanh Hà, so các nước trên thế giới, Việt Nam không phát hành tiền nhiều, nhưng tốc độ tăng của tiền tệ lại rất lớn, lớn hơn nhiều so tốc độ tăng GDP. Năm 2020, tín dụng tăng 12 - 13%, trong khi GDP chỉ tăng 2,91%. Tuy nhiên, giống như Mỹ, Việt Nam tuy cung nhiều tiền ra nền kinh tế, nhưng lại chưa gây ra lạm phát. Nguyên nhân là do vòng quay của tiền chậm lại, chuỗi cung ứng bị đứt gãy, cung hàng hóa chậm lại, người dân chi tiêu tằn tiện, khu vực dịch vụ gần như… đóng băng. Hiện, NHNN mới chỉ thực hiện hạ lãi suất điều hành và chưa có kế hoạch mua lại tài sản như trái phiếu. Cùng với đó, các chính sách điều hành linh hoạt, phù hợp từng thời điểm đã cho thấy sự hiệu quả của nhà điều hành góp phần ổn định các chỉ báo kinh tế vĩ mô như tỷ giá, lạm phát hay lãi suất trong các năm gần đây. Từ nay đến cuối năm 2021, NHNN sẽ giữ nguyên các mức lãi suất điều hành, tiếp tục điều hành lãi suất phù hợp cân đối vĩ mô, lạm phát, diễn biến thị trường và mục tiêu CSTT, tạo điều kiện giảm chi phí vay vốn cho người dân, DN và nền kinh tế.

Mặt khác, thị trường chứng khoán (TTCK) và bất động sản (BĐS) có xu hướng tăng, nhưng hai thị trường này không nằm trong rổ chỉ số giá nên không ảnh hưởng tới mặt bằng giá cả chung. Tuy nhiên, có vẻ TTCK sẽ tăng trưởng chậm lại sau một thời gian tăng nóng và thay vào đó, thị trường BĐS lại nóng lên. Ngoài ra, giá xăng, dầu tăng nhưng nhu cầu sử dụng giảm trong bối cảnh hoạt động giao thông giảm. Vì thế, lạm phát từ nay đến cuối năm dự kiến không có biến động lớn.

Phó Thống đốc Thường trực NHNN Đào Minh Tú cho biết, trong nền kinh tế, thị trường tiền tệ, BĐS, CK luôn thông nhau và việc dòng tiền dịch chuyển trong ba thị trường này là điều bình thường. Mục tiêu của NHNN là tạo điều kiện cho cả ba thị trường phát triển, nhưng phải điều hướng dòng tiền để bảo đảm an toàn cho thị trường, không tạo “bong bóng”.

Chuyên gia kinh tế trưởng Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam Jacques Morisset: “Để phòng ngừa rủi ro lạm phát trong ngắn hạn, Việt Nam cần phối hợp hài hòa chính sách tài khóa (CSTK) và CSTT. Nếu chỉ thúc đẩy nền kinh tế bằng CSTT như hỗ trợ tín dụng cho DN, về lâu dài có thể dẫn tới rủi ro. Trong khi đó, Việt Nam còn nhiều dư địa triển khai CSTK”.